Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

VĂN HOÁ VÀ CẢNH ĐẸP VÙNG CAO

NHỮNG NÉT VĂN HÓA -  CẢNH ĐẸP VÙNG CAO
Do vướng bận công việc ở cơ quan, mãi tận 7h30 tối, tôi mới bắt đầu khởi hành, nhắm hướng Tuyên Quang theo quốc lộ 2. Vội đi cũng chẳng kịp ăn tối, tôi phóng hết tốc lực trên đường. Cũng may là quốc lộ 2 giờ đã hoàn thành việc nâng cấp, đường rất phẳng và rộng nên chẳng mấy chốc đã tới thị xã Vĩnh Yên. Tôi dừng lại làm vội bát phở rồi lại lao vào màn đêm. Khoảng 11h đêm thì tôi tới Tuyên Quang, vào đại một cái khách sạn ven quốc lộ 2 ngủ lấy sức để sáng mai đi sớm.
Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, ăn sáng rồi lên đường trực chỉ thị trấn Đồng Văn.


Chạy đến 11h30 thì tôi bắt đầu tới đường 4C leo đèo lên Quản Bạ. Vẫn con đường quanh co uốn khúc cheo leo giữa một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm luôn gây phấn khích cho tôi mỗi khi đi qua. Có điều năm nay, thời tiết khô hạn quá khiến cây cối không mọc được, những thửa ruộng bậc thang phơi mình khô cằn trong làn sương.


Ai lần đầu đi qua đây đều không khỏi có chút gai người khi nhìn xuống phía dưới.


Gặp một bạn đi Matiz leo đèo phăng phăng.


Tôi đã đi Hà Giang một lần rồi nhưng giờ qua đây vẫn thấy xao xuyến như lần đầu bởi cảnh sắc quá hùng vĩ.


Tại độ cao 542m



Đường vẫn lên cao vòi vọi.
Và tranh thủ chụp ảnh kỷ niệm tại độ cao "đẹp" 1001m


Góc cua 1001m


Sang đến bên kia đèo, thị trấn Quản Bạ đã hiện ra trước mắt, vẫn núi Đôi yêu kiều, những ngôi nhà mái ngói lúp xúp chẳng sắp xếp theo một trật tự nào cả.


Nhà kiểu Mông xen lẫn với nhà kiểu Kinh thành một mớ hỗn độn.


Sau khi dừng lại ăn trưa ở thị trấn Quản Bạ, tôi hỏi đường vào làng dệt lanh Lũng Tám. Từ Quản Bạ đi chừng 11km tới Cán Tỷ, nhìn sang phía bên phải có một cây cầu treo, đó là đường đi Lũng Tám.


Cầu treo lát gỗ tấm rất đơn sơ


Mỗi khi có người đi qua, cầu đung đưa như ngồi võng.


Sông Miện rất nên thơ với hai bờ tre xanh rì.


Con đường đi qua một bản Mông đã được đổ bê tông kiên cố, những ngôi nhà hai bên đường được dựng rất ngay ngắn và sạch sẽ. Có vẻ nơi đây đã trở thành một điểm đến cho khách du lịch nước ngoài.


Quần áo được phơi trên sào bằng tre.


Dừng xe trước một ngôi nhà gỗ rất đẹp.


Con đường dẫn đến một thung lũng rộng lớn. Thung lũng này trải dài tới tận Xã Đường Thượng nằm sát đường đi từ Mậu Duệ tới Du Già với tổng chiều dài khoảng 39km.


Hai bên đường toàn là đá, không thấy ai trồng ngô ở đây.


Hỏi han một hồi tôi cũng được người dân chỉ vào một xưởng sản xuất vải lanh. Chỗ này chuyên làm hàng để bán cho khách du lịch.
Ngay đầu cổng là một bà cụ đang ngồi gỡ sợi


Tôi thử bắt chuyện nhưng không ai biết tiếng Kinh cả.
Trong nhà có khá đông người đang làm việc, toàn là phụ nữ, cả già, cả trẻ.


Vừa làm vừa nói chuyện rôm rả


Một cụ già tay đan thoăn thoắt


Những bộ khung cửi hết sức thô sơ


Công cụ sản xuất hết sức thô sơ, có lẽ công nghệ này dã dùng từ hàn trăm năm nay.


Cộng nghệ cuối cùng là lăn vải cho mềm.



Và cho vào chảo nhuộm



Tôi vào xem thử chỗ trưng bày sản phẩm để bán cho khách du lịch. Nói chung là sản phẩm mang tính đơn giản, rẻ tiền để bán cho khách du lịch nên các đường nét hoa văn đều chỉ được in bằng sáp ong chứ không được thêu bằng tay như sản phẩm truyền thống dùng cho người dân mặc hàng ngày. Qua trao đổi với bà chủ thì ngày nay, phụ nữ nơi đây cũng ít dệt lanh làm vải để tự may quần áo mà chủ yếu dùng vải của Trung Quốc cho nhanh và rẻ. Những khung cửi dệt lanh như thế này chắc chắn sẽ dần mai một rồi biến mất.
Rời làng lanh Lũng Tám, tôi quay trở lại đương 4C, đi qua thị trấn Yên Minh tới Đồng Văn.
Đến 16h30, tôi đã có mặt tại ngã ba Sủng Là và quyết định rẽ trái ra cửa khẩu Phó Bảng trước khi trời tối.


Độ cao tại ngã ba này là 1469m


Vừa rẽ vào, tôi thấy một bạn Mông đang đứng bần thần ngắm tấm biển.


Cả tỉnh Hà Giang đang đối mặt với một thời kỳ khô hạn nghiêm trọng. Đâu đâu dọc đường đi cũng chỉ thấy một cảnh khô cằn của đất đá, vắng bóng màu xanh tươi của ngô như mọi khi. Tuy nhiên thật bất ngờ, khi đến với Phó Bảng, một cảnh tượng hoàn toàn khác khiến tôi vô cùng ngạc nhiên. Đó là cánh đồng hoa hồng xanh tươi mơn mởn. HOA HỒNG, một thứ quá xa xỉ nơi đây vậy mà đang trải dài ngút ngàn trước mắt tôi.


Hóa ra, đây chính là Trung tâm giống cây trồng Phó Bảng, ở đây họ đã trồng thử nghiệm hoa hồng và đạt kết quả rất khả quan. Hoa hồng rồi đây sẽ thay thế cho cây ngô, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người dân nơi đây.


Hồng Phó Bảng đây.


Không những vậy, cả một vườn hoa đào đang khoe sắc thắm, một thứ hoa đào rất đặc biệt không phải là đào phai, cũng không phải đào bích mà hình như là sự kết hợp cả hai.



Hoa tàn rồi lại nở.


Cả một vườn đào đang nở hoa.


Và đây nữa, đố các bạn đây là hoa gì??? Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy hoa su hào, không ngờ hoa su hào lại đẹp thế.


Đến trung tâm của Phó Bảng, tôi ngỡ như mình đang lạc vào một vùng quê của Trung Quốc. Những ngôi nhà cổ xếp một dãy dài với những dòng chữ Trung Quốc trên cửa sổ. Mọi người nói chuyện cũng bằng tiếng Trung Quốc, rất ít người già nói được tiếng Kinh. Người dân ở đây có vẻ sống rất khép kín, họ nhìn thấy chúng tôi là người lạ là tránh xa, không muốn tiếp xúc.


Toàn là nhà bằng gỗ, mái ngói trông rất cổ kính, không hiểu là thị trấn này vẫn còn từ xưa hay mới được xây dựng sau chiến tranh biên giới.


Nhà trình tường, bờ rào đá của người Mông xen lẫn.


Một ngôi nhà gỗ hết sức điển hình của người Hoa.



Ở đây chỉ thấy có chữ Hoa, nói tiếng Hoa.


Một bà cụ già thoáng thấy tôi đi đến liền tránh vội vào trong nhà, họ không muốn tiếp xúc với người lạ.


Đây là chiếc bia mộ được làm sẵn của bà cụ già, cũng giống như các cụ nhà ta ngày xưa, chuẩn bị sẵn cỗ hậu sự.


Tranh thủ trước khi trời tối, tôi đi tiếp ra cửa khẩu Phó Bảng.
Một khu nghĩa trang của người Hoa



Một bản người Mông nằm giữa thung lũng đá.


Theo tôi được biết, người dân nơi đây gần như không có khái niệm về đường biên giới. Họ đều có người thân, họ hàng ở bên kia biên giới. Việc họ sang Trung Quốc làm ăn hoặc thăm hỏi họ hàng là rất bình thường. Đối với họ ở đâu sống dễ chịu hơn là họ ở, bất kể là Việt Nam hay Trung Quốc. Thậm chí, vì thời gian này bên ta đang thiếu nước trầm trọng, người dân mang thùng sang bên Trung Quốc xin nước về dùng như anh em hàng xóm láng giềng.
Đến khoảng 18h30 thì tôi tới sát đường biên giới. Cửa khẩu Phó Bảng rất đơn sơ với một đoạn tường biên xây bằng đá và 2 cột mốc 2 bên.


Không biết bao nhiêu xương máu của cả hai bên đã đổ xuống để có được đường biên giới này.


Cột mốc phía Việt Nam


Cột mốc phía Trung quốc


Anh bộ đội biên phòng đẹp trai quê ở Thanh Thủy, Phú Thọ, thần tượng của tên kilimangiaro, hắn mà được nhìn thấy ảnh của anh này thì chắc thích lắm.



Có một bản nhỏ của người Mông ở sát biên giới phía Trung Quốc.



Tình cờ gặp 2 bạn Trung quốc đang ngồi chơi ở cửa khẩu, họ mời tôi uống bia Tàu và chụp ảnh kỷ niệm.


Hai anh Tàu này với anh biên phòng có vẻ khá quen biết nhau, chắc là cũng thường xuyên qua lại biên giới để buôn bán trao đổi hàng hóa.


Loanh quanh nói chuyện và ngắm nghía một hồi, tôi lại lên xe định đi đến thị trấn Đồng Văn để ăn cơm và ngủ lại. Tuy nhiên, một trục trặc nho nhỏ thú vị đã thay đổi toàn bộ kế hoạch của tôi.
Rời Phó Bảng tôi quay trở lại đường 4C để lên thị trấn Đồng Văn, lúc này trời đã tối om. Loạng quạng thế nào, đến một ngã ba, tôi lại rẽ lên phía trên thay vì rẽ xuống dưới để đến thị xã Đồng Văn. Con đường cứ dẫn tôi đi lên mãi đỉnh núi, ngày càng cao. Đoán là đã đi nhầm đường, thoáng thấy bóng người đi xe máy phía sau, tôi vẫy anh ta đứng lại và hỏi thăm đây là đâu. Rất may là bạn Mông này lại nói được tiếng Kinh, anh ta bảo đi sai đường rồi, đây là đường vào bản Lao Sang, xã Sủng Là. Tôi mới giật mình bật GPS lên thì đúng là đi nhầm đường, chỗ tôi dừng lại sát biên giới, chỉ cách đường biên chừng vài trăm mét. Tôi đánh liều hỏi anh ta là trong bản có chỗ ngủ không, cho tôi vào ngủ nhờ. Anh chàng cười nói "chỉ sợ nhà em nông dân, anh không ở được thôi". Tôi khoái chí bảo anh ta dẫn về nhà, ở đâu mà chả ngủ được, mấy khi có dịp thế này. Anh chàng vui vẻ đi trước dẫn đường đưa tôi về nhà. Đến đoạn này thì tôi cá là tên kilimangiaro sẽ rất ghen tị với tôi. Hắn sẽ luôn ao ước có dịp được ngủ một đêm ở nhà của người Mông cách biên giới có mấy bước chân ở độ cao 1.605m (rất có khả năng Lao Sang là bản người Mông nằm ở độ cao lớn nhất Hà Giang).

Tới đây cũng xin nói thêm vài điều về người Mông.
Người H’Mông hay còn được gọi là người Miêu là một dân tộc xưa kia sống tại khu vực phía Nam của Trung Quốc. Sang thế kỷ 18 thì người Mông có sự di cư sang Việt Nam.
Người Mông là nhóm người có nguồn gốc từ châu Âu, di dân dần đến vùng đồng khô Siberia rồi mới đến định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà vài ngàn năm trước. (Trong thế kỉ XVII những nhà truyền giáo Tây phương lần đầu tiếp xúc với nhóm Mông sống hoang dã ở vùng Vân Nam TQ lấy làm ngạc nhiên thấy họ không có nét thuần Á châu mà lại có người có màu tóc hung, bạch kim và vài người lại có mắt xanh- chính vì vậy mà người Hoa gọi họ là Miêu, hay Mèo).
Vào khoảng thế kỷ 26 TCN, Miêu tộc đã bị bại trận dưới tay Hoa tộc và từ đó họ bị chia rẽ và phiêu bạt ngày càng lùi về phía nam. Trình độ văn hóa và kỹ thuật của người Miêu cũng ngày càng chênh lệch so với người Hán và trở thành một dân tộc bị coi là man di.
Ở Việt Nam, người Mông có số dân khoảng 800.000 người, cư trú ở độ cao từ 800m đến 1.500m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La... Do tập quán du mục nên một số người H'Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum.
Tiếng Mông là một ngôn ngữ không có chữ viết. Năm 1961 phương án chữ Mông theo tự dạng Latin đã được chính phủ Việt Nam phê chuẩn (cụ thể bộ chữ được xây dựng theo ngữ âm ngành Mông Lềnh Sa Pa — Lào Cai) có bổ sung thêm một số âm vị của các ngành Mông khác, gồm 59 phụ âm (có 3 âm vị phụ âm của ngành Mông Đơư và Mông Sua), 28 vần và 8 thanh. Vào thập niên 1970, phong trào học chữ Mông phát triển khá mạnh ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, nơi có nhiều người Mông sinh sống. Nhưng đến nay với nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình học chữ Mông đã không còn phát triển như trước kia nữa.

Quay trở lại câu chuyện của tôi. Leo một hồi thì tới nhà của anh bạn Mông. Cậu ta mở cổng cho tôi vào, vẫn là tường rào đá và nhà trình tường bằng đất lẫn với đá. Ấn tượng đầu tiên của tôi là ngôi nhà tối om, tuy nhiên khá rộng rãi với 4 phòng thông nhau. Ngồi ngay ngoài cửa là một chị Mông đang căm cụi may đồ trong bóng tối với duy nhất 1 cái đèn pin buộc cạnh trán.


Mọi người trong nhà nhìn tôi với ánh mắt rất lạnh lùng, không có vẻ thân thiện lắm. Anh bạn Mông mời tôi ngồi rồi chúng tôi bắt đầu làm quen. Anh ta tên là Vàng Mí Cơ, anh ta ở đây với bố mẹ, anh ruột và chị dâu. Hóa ra, Cơ đã từng đi bộ đội và đóng quân ở Phú Thọ rồi Yên Bái, thảo nào anh ta nói được tiếng Kinh rất tốt và rất thân thiện với người Kinh. Cơ năm nay mới 20 tuổi nhưng cậu ta rất hồn nhiên chia sẻ: "ở đây em là có tuổi rồi, bạn bè bằng tuổi em, chúng nó có vợ con lâu rồi". Cả nhà chỉ có mỗi Cơ nói được tiếng Kinh.


Rót nước cho tôi xong, cậu ta đi chuẩn bị đồ ăn cho tôi ăn tối.
Cơ nhờ mẹ thổi lửa nấu thức ăn.


Nhìn xung quanh, tôi đoán nhà Cơ cũng là một nhà khá giả, nhà có 4 phòng thông nhau, phòng nào cũng có một bép lửa, vừa để nấu nướng, vừa để sưởi ấm. Giường ngủ của các đôi vợ chồng được quây kín bằng vách gỗ, vừa ấm, vừa đảm bảo sự riêng tư trong sinh hoạt.

Cơ chỉ cho tôi chỗ ngủ đêm nay, vì đã chuẩn bị sẵn túi ngủ nên có một chỗ như thế này là quá tốt rồi.


Nhà có một gian bếp rộng dùng làm kho lương thực, đồng thời để nấu nướng khi có đông người và đặc biệt là nơi để làm rượu ngô, món đặc sản tuyệt hảo của người Mông trên cao nguyên đá. Để làm rượu ngô, người Mông đã có cả một bí quyết từ bao đời nay.

Đầu tiên, ngô được bung trên bếp lửa rồi trộn với một lượng men nhất định. Ba ngày sau, ngô đã ngấm men thì cho vào chum, vò, ủ kỹ khoảng 9, 10 ngày. Cuối cùng mới chưng cất. Men ủ ngô phải là chế từ lá và rễ cây rừng nên vừa thơm vừa ngọt.


Ngô đang ủ men.


Sữa cô gái Hà Lan có mặt ở khắp mọi nơi


Bếp lửa bập bùng, mỗi gian nhà đều có một bếp lửa.


Một cái chậu gỗ để rửa chân và cũng sẽ là vật để thờ cúng sau này.


Lương thực chính của người Mông trên cao nguyên đá là NGÔ, ngô được xay ra và đồ lên ăn hàng ngày gọi là mèn mén. Mèn mén được làm từ hạt ngô tẻ. Để có được món mèn mén, các gia đình người Mông thường phải đồ mèn mén vào sáng sớm để dành cho ăn cả ngày.


Ngô được xay bằng cối đá, xay thật nhỏ giống như thời bao cấp, chúng ta cũng hay ăn ngô độn vậy, sau đó người ta cho vào chõ và đặt chõ trong một cái chảo có nước vừa đủ để đồ.

Để thành món mèn mén người ta phải đồ hai lần. Đồ lần đầu để tẩm nước vào bột ngô, đồng thời cũng là để làm cho bột ngô tơi, không dính vào nhau. Bởi vậy, thời gian đồ lần đầu cần tính toán cho thích hợp với từng loại ngô (ngô non hay ngô già). Nếu là bột ngô già thì thời gian đồ cần lâu hơn. Nếu là bột ngô non thì chỉ sau khi nước ở trong chảo sôi, thấy hơi bốc nghi ngút lên miệng chõ là có thể bắc ra được.

Những người có kinh nghiệm đồ mèn mén thường không vội vàng mà phải dựa vào độ lửa cháy to hay nhỏ (vì lửa nhỏ thì lâu sôi, lửa to thì sôi nhanh). Khi bắc chõ ra khỏi chảo thì đổ bột ngô ra mẹt, dùng thìa gỗ đảo đi, đảo lại cho bột ngô tơi ra. Nếu không làm cho bột ngô tơi thì đồ lần sau bột ngô sẽ không chín kỹ, không thể có món mèn mén với vị thơm, dẻo và ngọt đậm đà, hơn nữa ăn sẽ bị đau bụng. Sau khi làm tơi và để nguội, người ta lại cho ngô vào chõ đồ lần hai và lần này phải đồ cho chín thật kỹ.

Khi ăn mèn mén, bà con thường dùng muôi gỗ để xúc mèn mén ra bát. Đi chợ, họ thường dắt theo một gói để ăn với thắng cố thì ngon tuyệt.

Trên khung cửa, tôi thấy một vật này, hỏi ra mới biết đó như là một dạng bùa, để người đi xa luôn được may mắn và bình yên.


Hai bên cửa treo hai bộ sừng trâu đã khô, cái đó là ngày xưa cúng ma ông của Cơ hai con trâu thì sau klhi làm cỗ xong treo hai bộ sừng ở đó.



Chỗ rửa của cả nhà. Người Mông sống trên cao, rất thiếu nước. giờ đây nhà nào cũng xây bể chứa nước mưa nên cũng đỡ khó khăn hơn trước. Tuy nhiên vẫn phải hết sức tiết kiệm. Nước chỉ được dùng cho các nhu cầu tối thiểu. Nước thải thậm chí cũng được giữ lại để tưới cây.


Dụng cụ lao động được treo cất cẩn thận.


Cuối cùng thì cơm cũng được dọn ra


Có mấy món của người Mông cộng với cốc mỳ tôm và rượu ngô pha mật ong bạc hà.


Có món thịt muối xào đậu, món này là món đặc sản của người Mông chỉ có khi đãi khách, ăn rất ngon.


Món đậu chúa, đây là món ăn rất phổ biến của người Mông, họ thường ăn với cơm hoặc mèn mén.


Một bát canh bánh đa


Cơm trắng và rượu ngô. Hôm nay tôi may mắn được Cơ đãi rượu ngô pha với mật ong hoa bạc hà. Thứ rượu này uống ngọt và thơm vô cùng nhưng cũng rất dễ say và ngấm lâu.
Có lẽ do từ ngày xưa, muối là thứ rất khan hiếm và đắt tiền nên người Mông ăn rất nhạt. Riêng món thịt muối xào, Cơ bảo tôi là rất mặn nhưng thực sự là có mỗi món đó là vừa miệng tôi. Uống rượu với thịt muối trong một khung cảnh thật thú vị, tối hôm đó tôi khá say và ngủ một mạch tớ sáng.

Sáng hôm sau khi tôi tỉnh dậy thì mặt trời đã lên cao hơn đỉnh núi. Khung cảnh xung quanh bản Lao Sang thật là đẹp và hùng vỹ.


Tôi dậy đánh răng rửa mặt và sắp xếp đồ đạc để lên đường sớm để xem chợ phiên Đồng Văn, phiên chợ nổi tiếng mà tôi vẫn ao ước đến chơi.

Tôi cám ơn Cơ và gia đình cậu đã cho tôi ngủ nhờ và tiếp đón rất chu đáo, dạo một vòng quanh nhà lần nữa rồi nổ máy lên đường tới Đồng Văn.

Mặt ngoài ngôi nhà trình tường


Tường rào xếp bằng đá


Để hoàn thiện ngôi nhà này, hẳn là gia đình Cơ đã mất rất nhiều công sức và thời gian. Riêng làm chỗ ngói đất nung này cũng phải mất cả năm.

Chuồng nuôi gia súc


Gác xép để chứa đồ


Điện cũng đã chuẩn bị được kéo vào trong bản, chắc trong năm nay, bản Lao Sang sẽ có điện lưới quốc gia, sẽ không còn cảnh người Mông làm việc và sinh hoạt trong bóng tối nữa, điều này không biết nên vui hay buồn đây.


Đường vào bản khá rộng rãi, có lẽ sẽ được trải nhựa trong vòng 1 hoặc 2 năm tới.


Phía dưới là thung lũng đá tai mèo xen lẫn với ruộng lúa.


Đến lúc đi xe xuống núi, tôi mới thấy là tối qua mình đã đi lên rất cao mà không biết. Ban ngày nhìn xuống thấy vực sâu thăm thẳm, con đường thì ngoằn ngoèo quanh co.



Người nào sợ độ cao đứng đây nhìn xuống sẽ sởn tóc gáy, nếu rơi xuống vực thì sẽ rất lâu mới chạm đáy.


Trên đường đến thị trấn Đồng Văn, tôi nhìn thấy rất nhiều hồ treo mới được xây dựng. Đây là dự án của chính phủ nhằm cải thiện tình hình cung cấp nước sạch sinh hoạt và tưới tiêu cho bà con ở đây. Tuy nhiên năm nay khô hạn nghiêm trọng hầu hết các hồ treo đều không có nước.


Thi thoảng mới có được hồ nước như thế này.


Dọc đường, bà con đi chợ rất đông. Người dân có thể phải đi bộ trên 20km để tới Đồng Văn, vừa là để mua bán, vừa là để giải trí, giao lưu. Mọi người thường mặc những bộ quần áo đẹp nhất và đi từ sáng sớm.


Chợ phiên ở đây vừa là chỗ để trao đổi mua bán, vừa là chỗ giao lưu văn hóa, gặp gỡ cộng đồng.


Một người đàn ông Mông cõng một chú khuyển đi chợ bán.


Đến thị trấn Đồng Văn, tôi vào thuê một phòng khách sạn để tắm rửa và để đồ, cất xe rồi vào hưởng thụ chợ phiên Đồng Văn.
Tên kilimangiaro lần trước đi lên đây chắc bị lỡ phiên chợ này, đi lên Đồng Văn mà không dự chợ phiên kể cũng hơi phí. Chợ phiên Đồng Văn họp vào sáng chủ nhật hàng tuần, là trung tâm giao thương của cả khu vực này từ Mèo Vạc đến giáp Yên Minh bao gồm cả Phó Bảng, Lũng Cú.
Chỉ có đến với chợ phiên Đồng Văn, mới thấy hết được muôn mầu cuộc sống của người dân nơi đây, mới đánh giá được họ đang giàu hay nghèo, đang sướng hay khổ, và hiểu thêm được một phần đâu là giá trị của cuộc sống.

Thị trấn Đông văn hôm nay đông nghịt người, ai cũng hối hả, vội vã như tranh thủ từng giờ từng phút tận hưởng không khí của phiên chợ.


Ngay phía ngoài chợ là khu bán gạo, gạo phần lớn được mang sang từ Trung Quốc.


Cẩn thận đong từng bơ gạo.


Một anh thợ sửa chữa đồ điện, với một cái đồng hồ vạn năng, anh ta có thể sửa chữa các đồ điện, điện tử đơn giản trong nháy mắt.


Một phút nghỉ chân, cho trẻ ăn kem.


Hàng bán đồ may sẵn


Hàng bán dao, người Mông vốn nổi tiếng về làm dao và đồ sắt, tuy nhiên giờ đây, nghề này đã có phần mai một.


Hàng bán giấy bản, giấy bản dùng để làm đồ thờ cúng, đóng sách vở theo kiểu truyền thống.


Mua giúp đi nào


Một anh Mông với ánh mắt nhìn xa xăm như suy tư về cội nguồn của mình. Nếu các bạn nhìn kỹ vào đôi mắt của anh ta, sẽ nhìn thấy sự khác biệt về mặt nhân chủng học rất rõ. Đôi mắt trong veo màu xanh, chiếc mũi cao, mắt trũng, những dấu vết của một chủng tộc bắt nguồn từ châu Âu. Nhiều người khi đi lên Sapa và các vùng phụ cận, nhìn thấy trẻ con người Mông tóc vàng, mắt xanh, họ cứ nói là do các anh Tây ba lô lên đây nhiều, yêu các cô gái Mông và sinh ra những đứa con lai nhưng thực ra không phải vậy, những đứa trẻ đó lại chính là những người Mông thuần chủng.


Một cô gái rất trẻ và đẹp với hàm răng bịt vàng thể hiện sự sung túc của gia đình cô.


Say trong khói thuốc lào


Một hàng bán đồ tạp hóa


Khu sửa giày


Máy khâu giày, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thiết bị cơ khí phức tạp này, không hiểu sao ở Hà Nội từ xưa tới nay không thấy có.


Hàng bánh bột chiên


Hàng hương


Khu bán xôi, xôi khá dẻo nhưng họ không cho muối nên ăn hơi nhạt.


Khu bán giày dép


Hai mẹ con, bà mẹ trông mặt thì già mà có con bé tý.


Quán rượu đông nghịt.


Đi chợ vùng cao thật hay. Tôi có thể sà vào bất cứ hàng nào, hỏi han, chất vấn người bán hàng, xăm soi hàng hóa mà không có bất cứ một sự khó chịu nào. Ai cũng vui vẻ trả lời những câu hỏi của tôi. Trong chợ không có bất cứ một hành động tiêu cực nào như trộm cắp, móc túi, lừa đảo, ăn xin hay đánh chửi nhau. Mọi người tới đây đối xử với nhau như người nhà, rất thân mật và gần gũi. Chợ phiên như một ngày hội của tuần để mọi người tới đây tận hưởng những giây phút thư giãn sau cả tuần lao động vất vả.


Dãy bán bánh bột nướng. Bột tẻ sau khi được xay nhuyễn và ủ lên men chua, nấu lên và đúc thành hình tròn như bánh dày, sau đó mang ra chợ nướng lên trên bếp than cho nóng và thơm. Mọi người thường mua bánh này để ăn với thắng cố và bánh đa, giá 5000 đồng 1 chiếc.


Một hàng bán bánh đa rất đông khách, bán kèm cả đậu phụ để ăn sống.


Hàng thịt lợn. Thịt lợn ở đây thường không được pha cắt sẵn thành nhiều loại như Hà Nội. Con lợn được chặt ra thành từng khúc nguyên cả xương để bán.


Và đây rồi, quán thắng cố. Tôi chủ định lên chợ Đồng Văn sẽ phải thưởng thức món thắng cố, một đặc sản nổi tiếng của nơi đây.


Thắng cố được múc ra chậu nhựa, mỗi người một chậu xì xụp ăn.


Chảo thắng cố sôi sùng sục bốc khói nghi ngút


Thắng cố là đây


Khác với những gì được báo chí viết ca ngợi nọ kia như một thứ đặc sản cầu kỳ của người Mông, theo đánh giá của tôi, thắng cố là một món ăn hết sức giản dị, không cầu kỳ vốn như đặc tính của con người Mông.

Thắng cố thực chất là một cái chảo nước sôi sùng sục, người ta thả vào đó lòng, gân, thịt... của gia súc như bò, dê, ngựa. Thắng cố ở Đồng Văn không hề có một loại gia vị nào, kể cả muối. Khi ăn, có một túi muối và mì chính trên bàn, người mua tự bỏ vào cho vừa miệng.

Tôi bước vào quán thắng cố, hơi lúng túng vì chưa ăn bao giờ, đành hỏi mọi người xung quanh giờ muốn ăn thì làm thế nào. họ chỉ cho tôi một cái chậu nhựa và một cái muôi gỗ trên bàn, bảo ra chảo thắng cố mà múc. Tôi nhìn chiếc chậu nhựa và cái muôi gỗ mà hơi e ngại vì có vẻ nó đã có người dùng xong và để lại mà chưa được rửa. Tôi gọi ông chủ quán, hỏi ông là ở đây có nước để rửa không. Ông lão chủ quán nhìn tôi như một thằng ngớ ngẩn, rồi bảo muốn sạch thì cầm ra tráng vào chảo thắng cố đang sôi kia kìa. Tôi hơi sốc và sau đó thì cưới phá lên, đúng là mình ngu thật.


Sau khi tráng sạch sẽ vào chảo thắng cố, tôi xúc cho mình lưng chậu nhựa rồi đưa cho ông chủ định giá: 10.000 đồng, OK, tôi bê chậu ra tìm một bàn ngồi thưởng thức. Tôi chọn một bàn có hai vợ chồng người Mông rất trẻ và một đứa con đang ngồi ăn. Thấy chậu thắng cố của họ đã gần hết mà đứa trẻ có vẻ vẫn còn thòm thèm, tôi múc thêm một chậu thắng cố nữa mời họ ăn thêm. Người vợ cám ơn và rút ra túi mèn mén đổ thêm ra ăn, chị cũng trút cho tôi một ít mèn mén để ăn thử với thắng cố.


Gia đình này nhà ở đỉnh đèo Mã Pí Lèng, cả 2 vợ chồng đều không nói được tiếng Kinh, tôi phải nhờ một người phiên dịch mới nói chuyện được. Họ đi bộ mất hơn 2 tiếng đồng hồ để đi từ nhà tới đây.


Mèn mén này.


 Cảm nhận đầu tiên về thắng cố của tôi là sự giản dị trong hương vị. Bản thân tôi vốn đã quen với quá nhiều thứ cao lương mỹ vị của thế giới hiện đại được chế biến cầu kỳ từ nguyên liệu, gia vị đến cách nấu nướng, thậm chí là cách ăn. Thắng cố là món không phải để dành cho người sành điệu, nó là thứ hết sức đơn giản nhưng chính trong sự đơn giản ấy lại chứa đựng nhiều điều về văn hóa, cuộc sống của con người nơi đây. Bát thắng cố đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho mọi người ở đây nhiều hơn những cao lương mỹ vị nơi thành phố, điều này đã khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về đâu là hạnh phúc thực sự của cuộc sống.Mọi người ngồi xung quanh tôi nói chuyện như thể bạn bè, cho dù là cặp vợ chồng trẻ kia hay ông già đi một mình ngồi bên cạnh. Tất cả hòa quyện với nhau tạo nên một không khí rất đầm ấm và chân tình.
Ăn thắng cố xong, chia tay mọi người bằng một chén rượu ngô, tôi lại lang thang trong chợ để tìm hiểu thêm.

Đôi khi cũng có những hình ảnh rất ngộ nghĩnh


Đã đến chợ là không say không về


Thanh niên này sắp đến tuổi lấy vợ rồi


Anh bán hàng sành điệu, văn hóa Hàn Xẻng có mặt khắp mọi nơi.


Khu ăn uống lúc nào cũng đông nghịt


Bánh đa và mì tôm là hai món rất phổ biến và được bà con ưa thích


Anh trai này đang cố gắng dúi tiền vào tay cô gái, không hiểu có tình ý gì


Hai cô gái diện ngất trời


Bùa Mông này.


Lũ trẻ gương mặt tràn trề hạnh phúc.


Khu bán vải


Càng về gần trưa chợ càng đông


Một bóng hồng đứng ngẩn ngơ như đang tìm ai.


Người Mông mặc những bộ quần áo đẹp nhất để chơi chợ, kể cả lũ trẻ


Hàng bán hạt giống, đủ các loại, 100% xuất xứ từ Trung Quốc


Giá đỗ tương, món này không thấy có ở Hà Nội, không biết ăn có ngon không


Khu bán gùi, vừa chắc lại vừa nhẹ nhá.


Gừng núi này, thơm và cay lắm.


Khu bán hòm đựng đồ


Một người đàn bà đang ôm con nhỏ ngồi bán tóc. Nhìn mụ buôn tóc dùng con dao cạo cắt xoèn xoẹt từng lọn tóc của người đàn bà mà tôi thấy hơi chạnh lòng. Mụ vừa đưa dao thoăn thoắt vừa cười đắc ý. Có một cô người Mông đến, hỏi người đàn bà bằng tiếng Mông là bán bao nhiêu tiền, người đàn bà trả lời là 50.000 đồng, cô kia lẩm bẩm sao bán rẻ thế, có chỗ bán được 200.000 đồng. Thế là mụ buôn tóc chửi té tát bằng tiếng Kinh, mụ dùng những lời lẽ thô tục nhất mà vốn ta hay nghe thấy ở những chợ cóc của Thủ Đô, cũng may là có lẽ cô người Mông kia cũng không hiểu nên bỏ đi.


Chợ đã gần tan, các anh Mông đã bắt đầu ngà ngà say, ngoài đầu chợ, một phụ nữ đang cố gắng lôi người chồng đứng dậy nhưng có vẻ không xong, thôi đành ngồi đợi chồng tỉnh rượu rồi cả hai cùng về.


Một cảnh thường gặp sau các phiên chợ vùng cao là cánh đàn ông người Mông say rượu năm khắp nơi, có người còn vừa nằm vừa hát, có người vứt xe máy bên vệ đường rồi lăn ra ngủ. Tập quán ở đây là thế, cũng giống như ở Hà Nội ta, cánh đàn ông vào nhà hàng ăn đặc sản, uống bia uống rượu say rồi vào WC ói, thế mới vui. Tuy nhiên, có một điều khác biệt là những người vợ Mông, họ không tỏ ra bực mình hay khó chịu, họ lặng lẽ ngồi bên cạnh chồng, che ô cho chồng đợi chồng tỉnh rượu rồi dìu chồng về nhà, lau mặt mũi, phủi bùn đất trên quần áo của chồng cho sạch sẽ. Điều đó tạo nên một nét văn hóa rất hay ở đây, nơi tình người thật rộng lớn và trong sáng.

Nhà cổ ở Đồng Văn


Phố cổ cafe


Đi xem chợ phiên xong, tôi tạt vào Phố Cổ cafe làm ly nước hoa quả cho đỡ khát. Quán cà phê phục vụ theo phong cách Tây.



Vừa uống nước vừa ngắm chợ Đồng Văn.



Hết phiên chợ, tôi vào ăn tạm đĩa cơm rang rồi lên đường đi Mèo Vạc.
Qua đèo Mã Pí Lèng, bản của hai vợ chồng người Mông tôi gặp ở hàng thắng cố chắc là đây.

Đường vào bản cheo leo hiểm trở ở độ cao 1.101m, say rượu mà lăn xuống thì hơi mệt

Nơi cao nhất của đèo Mã Pí Lèng là khoảng 1.100m, thấp hơn tôi tưởng. Chỗ đặt tấm bia thì chỉ cao 1.059m


Tôi nảy ra ý định đi thử xuống sông Nho Quế xem sao vì đoạn sông này sắp sửa biến thành hồ nước thủy điện.

Trên đường xuống sông Nho Quế, tôi gặp một cậu bé cưỡi một con ngựa đang phi nước kiệu, cảnh tượng thật là đẹp, nhìn chỉ muốn vứt cào cào trèo lên lưng ngựa phi thử một vòng.
Sông Nho Quế đây rồi, rất hiền hòa và trong xanh, cả khu này ít nữa là sâu hàng chục mét dưới nước đây.
Ngắm nghía sông Nho Quế chán, tôi đi về Mèo Vạc, vào lấy 1 phòng ở khách sạn Hoa Cương, tắm rửa và thật tình cờ, TV đang chiếu bộ phim Into the Wild. Một bộ phim dựa trên một câu truyện có thật về anh sinh viên đẹp trai học giỏi, con nhà giàu Christopher McCandless sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường đại học Emory University, anh ta đã từ bỏ thế giới hiện đại phù phiếm và giả dối để về sống hòa mình vào với thiên nhiên, kết bạn với những con người sống chân thành và nhân ái.
Hãy đọc thử một vài cảm nhận của một bạn tôi tình cờ tìm thấy trên internet:
"- Chúng ta đang sống giữa những sự giả tạo vô nghĩa. Mỗi người đều đang đeo một chiếc mặt nạ, lừa mị người khác và tự lừa mị chính mình. Tớ rất thích cái cảnh Alex và Wayne ngồi uống bia trong quán, cả 2 cùng hét lớn “Society! Society!” Alex cảm thấy sợ hãi và mất niềm tin đối với xã hội loài người, cái xã hội mà người ta bị ràng buộc với nhau và với cuộc sống bởi những điều không có thật, bởi những mục đích thực dụng vô nghĩa và bởi cái ham muốn vật chất tầm thường phù phiếm.
- Sự ảnh hưởng của gia đình lên suy nghĩ và cách nhìn của một cá nhân. Vốn dĩ bất kì chúng ta ai cũng lờ mờ có những cảm nhận và suy nghĩ trên, khác nhau là về mức độ. Chúng ta vẫn chịu đựng và chấp nhận được những điều đó. Nhưng Alex thì khác. Sự khác biệt ấy một phần đến từ tính cách của Alex và sự dư giả về mặt vật chất của anh ấy, nhưng phần lớn đến từ gia đình của anh. Chính gia đình đã khiến anh hoàn toàn đánh mất niềm tin vào con người cũng như ý nghĩa của cuộc sống hiện tại. Alex đã lớn lên trong sự giả tạo và lừa dối, chính vì thế anh cảm thấy cả xã hội bên ngoài cũng giống như thế. Và anh quyết định lên đường “into the wild”, tìm về với thiên nhiên nguyên sơ và hoang dã, nơi không có những vỏ bọc đẹp đẽ, những sự an toàn giả tạo và những chiếc mặt nạ.
- Trong lúc xem phim, tớ luôn ao ước có thể sống như Alex. Một cuộc sống đúng nghĩa, với đầy những thử thách, những trải nghiệm và những khám phá mới mẻ. Chỉ trong 2 năm ngắn ngủi nhưng Alex đã sống hơn anh đã sống 21 năm trước, và có lẽ là hơn cả chúng ta sống trong suốt 60 năm."

Đúng là "Every man dies, but not every man really lives"



Xem xong bộ phim, tôi đi ăn tối đi loanh quanh Mèo Vạc ngắm trăng (hôm đó là 13 âm lịch) rồi về khách sạn lăn ra ngủ.
Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, gói ghém đồ đạc, trả phòng và lên đường đi Mậu Duệ - Du Già.
Đi một đoạn thì tôi đến Lũng Phìn. Chuyến đi này của tôi thật là có duyên, tôi gặp đúng phiên chợ Lũng Phìn, tên kilimangiaro một lần nữa sẽ phải nhảy lên vì ghen tỵ với tôi . Chợ phiên Lũng Phìn là chợ họp lùi, túc là 6 ngày có một phiên. Nếu tuần trước là họp vào thứ ba, thì tuần này sẽ họp vào thứ hai. Người ở nơi xa đến, sẽ không thể biết được chợ sẽ họp vào ngày nào để mà rình ngày đi.
Chợ Lũng Phìn nằm ở độ cao 1.100m thậm chí còn to và đông hơn chọ Đồng Văn, là nơi giao thương của bà con khắp khu vực từ Mèo Vạc đến Mậu Duệ và Yên Minh. Chợ Lũng Phìn cũng là nơi tập trung nhiều vùng dân tộc hơn chợ Đồng Văn bao gồm Mông, Giáy, Lô Lô, Tày, Nùng và .... Kinh. Tại đây cũng có tuyến xe khách để đưa đón bà con đi chợ xa, vận chuyển hàng hóa từ các nơi đến.
Từ ngoài đường cái, tôi đã thấy cả khu vực này đang rất náo nhiệt. Một chiếc xe khách đang xuống hàng, những chú dê được buộc trên nóc xe.
Ngay cổng chợ, nhiều người chỉ cắp nách mỗi con gà đi bán, chỉ cần bán được một con gà là đủ tiền mua sắm cho cả tuần.


Trâu bò lợn dê... rất nhiều để bán
Chợ Lũng Phìn họp trên suốt một khu vực dài đến 500m


Hàng bán đồ khô và hoa quả
Chọn cày
Dây chão để kéo cày làm bằng da bò, da trâu bện lại

Gặp một chị xinh như hoa hậu người dân tộc Giáy.


Nhân đây cũng xin giới thiệu vài nét về dân tộc Giáy vốn ít được nói đến.
Dân tộc Giáy có khoảng 38.000 người, cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu và Cao Bằng. Người Giáy còn có tên gọi khác là Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Cùi Chu, Xạ. Tiếng Giáy thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái.
Người Giáy làm ruộng nước là chính, rẫy chỉ là nguồn thu nhập thêm và thường cũng là chỗ chăn nuôi lợn, gà. Đồng bào nuôi nhiều trâu, ngựa, lợn, gà, vịt, có truyền thống dùng ngựa để cưỡi, thồ, dùng trâu kéo cày, kéo gỗ.
Đàn ông Giáy mặc quần áo, vấn khăn. Đàn bà có áo 5 thân xẻ nách bên phải cài cúc, mặc quần, đầu đội khăn hoặc vấn tóc để trần. Thường có trang trí trên sản phẩm dệt như áo nữ, túi đeo của nữ, gối, rèm cửa buồng, mũ trẻ em.
Làng người Giáy đông đúc, có khi tới cả trăm nhà. Họ ở nhà sàn (ở Hà Giang, Cao Bằng), hoặc nhà trệt (ở Lào Cai, LAi Châu. Gian giữa bao giờ cũng để tiếp khách và đặt bàn thờ tổ tiên. Mỗi cặp vợ chồng có một buồng nhỏ tại các gian khác. Bếp đun đặt ở một gian.
Theo phong tục Giáy, trong các gia đình vị thế nổi bật là người chồng, người cha. Con cái lấy họ theo cha. Nhà trai chủ động việc cưới xin, sau lễ cưới, cô dâu về ở cùng gia đình nhà chồng, tuy vậy việc ở rể cũng là phổ biến. Trước kia người Giáy có tục "kéo vợ", đó là trường hợp cô gái và gia đình cô ta đồng ý nhưng nhà trai không đủ tiền để cưới hỏi đàng hoàng, chàng trai phải tổ chức "kéo vợ".
Phụ nữ Giáy khi mang thai phải kiêng cữ và cúng cầu mong sinh nở yên lành. Dịp đứa bé đầy tháng, có lễ trình báo với tổ tiên và cầu xin tổ tiên phù hộ. Tên, ngày tháng năm sinh của mỗi người được thầy cúng ghi vào miếng vải đỏ, sẽ dùng để so tuổi khi tính chuyện cưới xin và chọn giờ trong việc đám ma của chính người đó.
Người Giáy cho rằng: ngoài thế giới người sinh sống còn có thế giới trên trời và thế giới trong lòng đất. Mỗi người chết đi nếu được cúng quải chu đáo thì được lên trời sung sướng, bằng không, sẽ phải xuống thế giới trong lòng đất đáng sợ.
Trên bàn thờ, người Giáy không chỉ thờ chung các đời tổ tiên mà còn thờ cả "vua bếp", trời, đất. Trong nhà, đồng bào cũng thờ cả bà mụ liên quan đến sinh đẻ và trẻ sơ sinh, thờ thổ thần, có khi thờ cả tổ tiên họ vợ. Những tổ tiên xa xưa được thờ làm "ma" giữ cửa.
Người Giáy có vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng dao... có nhiều truyện giải thích hiện tượng tự nhiên, có nhiều truyện thơ dài, có truyện kết hợp lời kể với lời hát. Dân ca phong phú, gồm nhiều loại, mỗi loại có nhiều bài, điệu khác nhau, đặc biệt các hình thức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt sôi nổi và hấp dẫn.

Nguồn: Trang tin điện tử của Ủy ban dân tộc

Một hàng thuốc nam

Khu bán gia súc

Ai mua bò đê...

Lợn Mông đây...


Có một sự khác biệt ở đây là Lũng phìn có các hàng bán nước giải khát, thay vì uống rượu, họ uống nước tăng lực, loại nước tăng lực này chắc là có xuất xứ từ Trung Quốc.

Ở đâu cũng thấy tăng lực.
Ở đây còn có một dịch vụ nữa đó là xào thịt thuê, nghĩa là bạn ra chợ, mua một cân thịt, rủ vài người bạn ra chỗ đó, thuê người ta thái thịt và xào thịt lên để uống rượu tại chỗ, giá là 5000 đồng 1 chảo.
Thơm ra phết
Thịt xào xong đổ ra chậu nhựa ngồi nhậu với rượu ngô.

Lại Thắng cố
Ở đây có cả Tiết canh nhé, nhìn rất hấp dẫn.
Còn rất nhiều điều hay nữa nhưng vì lần này, do chủ quan nên tôi không mang xạc pin máy ảnh, không dám chụp nhiều, đành để dành cho đoạn sắp tới Mậu Duệ - Du Già. Tôi vào một hàng bánh rán của một chị người Dao, làm mấy cái bánh rán rồi lên đường đi Mậu Duệ. Xin hẹn gặp lại Lũng Phìn vào một dịp khác.
Được đăng bởi Bát Trảm Đao vào lúc 15:51










Chia tay Lũng Phìn, tôi lên đường tới Mậu Duệ. Mậu Duệ là một xã nổi tiếng về khoáng sản của Hà Giang, đặc biệt có mỏ antimoan với trữ lượng lớn đem lại phần lớn nguồn thu hàng năm cho ngân sách tỉnh. Tuy nhiên, cũng chính do sự giàu có về khoáng sản này mà tự nhiên của Mậu Duệ đang ngày càng bị tàn phá và đầu độc.
Khi đi qua mỏ Antimoan, tôi phải dừng lại đứng lặng trước sự tàn phá thiên nhiên của cái mỏ này. Rừng núi vốn kỳ vĩ nơi đây bỗng trở thành một bãi đất thải khổng lồ, nham nhở, đen đúa, nhớp nháp.


Nhìn những người công nhân mỏ hầu hết là dân tộc Mông bám chênh vênh trên núi đất thải như đàn kiến mà tôi cảm thấy thương xót cho họ. Những gương mặt mệt mỏi, nhem nhuốc, xạm đen vì antimoan, một kim loại nặng cực độc lầm lũi nhìn tôi mà không có nổi một nụ cười.

Một vài thông tin về tác hại của việc khai thác khoáng sản bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nguồn nước.

Qua nghiên cứu, ảnh hưởng của hoạt động khoáng sản tới nguồn nước (khả năng tiêu thoát, chế độ thủy văn, lưu lượng hồ chứa...) và sự biến đổi thành phần hóa học của nguồn nước, các nhà khoa học của Trung tâm Khoa học Tự nhiên & Công nghệ Quốc gia đã xác định những nguyên nhân và xây dựng giải pháp về khoa học và công nghệ nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường nước trong khu vực khai thác, đồng thời tránh được những tác động tới môi trường xung quanh.
Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản (HĐKS) phát triển một cách ồ ạt, gây những tác động tiêu cực tới môi trường, đặc biệt gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước sản xuất nông nghiệp.
Trong HĐKS, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho hầu hết công đoạn sản xuất. Quá trình sản xuất, tháo khô mỏ, đổ thải, v.v..., đã gây những tác động tiêu cực tới nguồn nước sản xuất nông nghiệp ở khu vực xung quanh khai trường.
HDDKS làm thay đổi địa hình, hệ thống nước mặt, điều kiện tàng trữ và thoát nước (tác động cơ học); làm thay đổi tính chất vật lý, thành phần hoá học của nước (tác động hoá học).

Ảnh hưởng của những tác động cơ học của HĐKS tới nguồn nước
Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai trường bị hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải được tâng cao.
Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu tố của dòng chảy trong khu mỏ như thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốc dòng chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng, v.v...
Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước, biến đổi chất lượng nguồn nước và làm suy giảm công năng của các công trình thuỷ lợi nằm liền kề với các khu khai thác mỏ.
Khi tiến hành các HĐKS sẽ hình thành các moong sâu đến hàng trăm mét, là nơi tập trung nước cục bộ. Ngược lại, để đảm bảo hoạt động của mỏ, phải thường xuyên bơm tháo khô nước ở đáy moong, hầm lò, hình thành các phễu hạ thấp mực nước dưới đất với độ sâu mực từ vài chục đến hàng trăm mét và bán kính phễu hàng trăm mét. Điều đó dẫn đến tháo khô các công trình chứa nước trên mặt như hồ ao,... xung quanh khu mỏ.
Có thể nêu nhiều điển hình về sự ảnh hưởng của khai thác mỏ đến các nguồn nước ở khu mỏ thiếc Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang), tổng lượng nước thải công nghiệp gồm bùn cát và nước khoảng 2000 m3/ngày được xả ra các đập lắng với tổng dung tích > 74000 m3.
Các đập lắng nước này đã làm tăng đáng kể diện tích mặt nước, thay đổi chế độ thuỷ văn của suối. Sau một thời gian đổ thải, hầu hết các hồ và nhiều đoạn suối đã bị lấp đầy bùn, cát.
Đáy hồ cao hơn cốt cao tự nhiên từ 5-10 m làm thay đổi dung tích, lưu lượng và hướng dòng chảy tự nhiên. Các hồ và suối trước đây là nguồn nước sản xuất nông nghiệp, hiện nay hoàn toàn không thể sử dụng được.
Ở các mỏ thiếc, đá quí ở miền tây Nghệ An, do quá trình đào bới và đổ thải, các khe Bản Sỏi, Khe Mồng, Tổng Huống - là nguồn cấp nước cho nông nghiệp của khu vực, bị xói lở bờ, bồi lấp dòng chảy, đổi dòng, giảm khả năng tưới từ đó gây ra giảm vụ, giảm năng suất cây trồng.
Khe Nậm Tôn bị đục và bị ô nhiễm trên chiều dài hơn 20 km, diện tích lên đến 280 ha. Khai thác đá quý ở Quì Châu đã làm một số suối và công trình thuỷ lợi bị phá huỷ, các hố khai thác sâu là nơi tích tụ chất thải làm ô nhiễm nguồn nước.
Khai thác than ở vùng Quảng Ninh cũng làm cho các sông, hồ và các công trình chứa nước bị xuống cấp và hư hại nghiêm trọng.
Ở Cổ Định - Thanh Hoá, trước khi khai thác quặng crômit, vùng này có trữ lượng nước mặt tương đối lớn (sông Lê, các suối, các hồ,..). Hiện nay, diện mạo mạng lưới thuỷ văn của khu vực thay đổi hẳn.
Các hồ, suối tự nhiên bị bồi lấp, làm giảm đáng kể khả năng tiêu thoát lũ của khu vực, nhiều moong khai thác quặng trở thành hồ nước mặt. Tình trạng khai thác, đổ thải bừa bãi và quá tải đã làm cho chất thải rắn là bùn, cát từ bãi thải tràn ra ngoài, bồi lấp một một vùng rộng lớn hàng chục hecta đất canh tác, làm ô nhiễm đất và nguồn nước nông nghiệp, thiệt hại ước tính hàng trăm triệu đồng.

Tác động hoá học của HĐKS tới nguồn nước
Song song với những tác động cơ học đến nguồn nước nói chung và nguồn nước nông nghiệp nói riêng, những tác động hoá học đối với nguồn nước cũng rất đáng kể.
Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên,... là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ.
Mức độ ô nhiễm hoá học các nguồn nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm thân quặng, thành phần thạch học và độ bền vững của đất đá chứa quặng, phương pháp và trình độ công nghệ khai thác, chế biến quặng, biện pháp quản lý và xử lý chất thải,...
Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng cao các ion kim loại nặng, á kim, các hợp chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ... cao hơn so với nước mặt và nước biển khu vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần. Đặc biệt là khu vực từ Quảng Yên đến Cửa Ông. Sự biến đổi chất lượng nguồn nước, tải lượng một số chất thải trong nước tháo khô các mỏ than.
Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng.
Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, CN-...; ngoài ra, các nguyên tố kim loại nặng cộng sinh như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hoà tan vào nước.
Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng vàng là nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông nghiệp. Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn sét và một số kim loại nặng và hợp chất độc như CN-, Hg, As, Pb v.v... mà nguyên nhân chính là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển.

Nguyên nhân gây suy thoái nguồn nước
Nguồn nước mặt và nước ngầm xung quanh các khu vực HĐKS sử dụng làm nguồn cấp cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt đang bị suy giảm về trữ lượng và ô nhiễm, suy thoái về chất lượng do hai nhóm nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân về quản lý: Từ những năm 80 đến nay, HĐKS phát triển mạnh, nhưng thiếu tổ chức và quản lý chặt chẽ, xuất hiện nhiều tổ chức không chuyên và nạn khai thác tự do, các địa phương chưa có quy hoạch sử dụng khoáng sản phù hợp, lực lượng quản lý tài nguyên và môi trường quả mỏng, phương thức và biện pháp quản lý chưa thích hợp, dân trí thấp, kinh tế chưa phát triển dẫn đến tình trạng khai thác khoáng sản tràn lan, thiếu tổ chức , không quản lý được quá trình khai thác và đổ thải.
- Nguyên nhân về kĩ thuật và công nghệ: Trong HĐKS hầu hết đều dùng những thiết bị và công nghệ cũ, lạc hậu, chưa chú ý đến sự đồng bộ về thiết bị và công nghệ bảo vệ môi trường. Hầu hết các mỏ thiết kế và xây dựng từ những thập niên 60 - 70 với qui mô về sản lượng quặng và khối lượng đất đá thải ít hơn nhiều so với hiện nay.
Sau quá trình khai thác 30 - 40 năm, các bãi thải được quy hoạch với quy mô nhỏ, chưa tính đến các biến cố về quá tải đối với các bãi thải. Một lượng chất thải rất lớn bao gồm chất thải rắn, nước thải và bùn thải hàng năm, không được quản lý và xử lý, gây ô nhiễm môi trường

Con đường từ Mậu Duệ tới Du Già toàn là đường đất và đá cấp phối, gập ghềnh lên xuống và rất vắng vẻ.


Tôi lao nhanh trên con đường offroad, tận hưởng cảm giác điều khiển chiếc xe vượt qua các đoạn đường khó khăn. Bỗng nhìn thấy ba bố con đang chuẩn bị cơm ăn trưa trong một ngôi nhà dựng dở dang ven đường, tôi quay xe lại xông vào xin cơm ăn.


Chuyến đi này của tôi có vẻ giống như Tây du ký, toàn là xin ngủ nhờ rồi lại xin cơm ăn, có điều tôi may mắn gặp toàn Bồ Tát, chẳng gặp phải con yêu quái nào cả.


Anh bạn người Dao này mới 20 tuổi nhưng đã có 2 thằng con trai. Anh ta mới ra ở riêng, vừa nhờ bạn bè đến giúp dựng nhà, dựng gần xong thì thiếu gỗ nên phải đợi mấy hôm nữa có đủ gỗ mới dựng tiếp. Cũng may mà có sẵn cơm và thức ăn, anh ta xới cơm cho tôi và lấy thịt lơn muối xào cho tôi ăn. Hai đứa trẻ rất ngoan, chạy đi lấy bát đũa và sắp xếp đồ ăn cho tôi rất nhiệt tình. Tôi với anh chàng Dao ngồi ăn cơm, uống rượu Thóc vừa hỏi chuyện vui vẻ.

Bữa cơm thân mật ở độ cao 716m như thế này, ở Hà Nội có mất tiền triệu cũng không mua được.

Cơm nước xong xuôi, tôi chia tay 3 bố con để tiếp tục chặng đường tới Du Già.
Con đường ngày càng nhỏ lại, như một sợi chỉ chạy vòng vèo quanh núi.



Chạy qua một chiếc cầu tre ọp ẹp, vừa đi vừa run


Đường mỗi lúc một bé, đường này mà mưa thì trơn lắm đây.


Khu vực này bà con hầu hết là dân tộc Dao đỏ. Họ làm nhà sàn bằng gỗ ở lưng chừng núi và đã có điện lưới quốc gia để thắp sáng. Nhà nước cũng đã lắp đặt hệ thống cung cấp nước sạch cho bà con ở đây nên cuộc sống hiện tại đã được cải thiện rất nhiều so với trước, các điểm trường cũng được xây dựng khang trang và đúng tiêu chuẩn của Bộ Giáo Dục. Trẻ em ở khu vực này tôi thấy khá thông minh, lanh lợi và được học hành tử tế. Tuy nhiên tập quán tảo hôn thì vẫn còn, mọi người kết hôn và lập gia đình quá sớm dẫn tới việc tăng dân số nhanh, gây áp lực đến quỹ đất và tài nguyên thiên nhiên trong khu vực.


Bản Ngâm La nằm ở độ cao 873m


Vài nét sơ lược về dân tộc Dao
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 473.945 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Ở các xóm Dao thường có thợ rèn sửa chữa công cụ. Lò rèn chỉ có kìm, de, búa và ống bễ. ống bễ là một khúc gỗ khoét rỗng (1m x 0,30 - 0,40m), nằm ngang để quạt gió. Người khách thường giúp thợ rèn kéo bễ.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Phụ nữ Dao đỏ búi tóc vấn khăn lên đỉnh đầu. Trang phục của họ phần cổ áo thêu hoa văn sặc sỡ, riêng chiếc yếm ngực còn gắn những bông hoa tám cánh chạm bằng bạc.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Cấp sắc là nghi lễ truyền thống của những người đàn ông Dao đến tuổi trưởng thành.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Nguồn: Trang tin điện tử của Ủy ban dân tộc

Rời Mậu Duệ, tôi đến xã Đường Thượng thuộc huyện Yên Minh.

Những phế tích còn sót lại từ thời Pháp thuộc


Không rõ đây là đồn bốt hay dinh thự của một kẻ quyền uy ngày xưa


Phế tích nằm trên một quả đồi, án ngữ đường vào thung lũng.


Giờ đây người ta trồng ngô trong lòng phế tích này luôn, liệu đây có phải là dinh cơ của Sủng Chúa Đà khét tiếng tàn ác xưa kia?

Thung lũng Đường Thượng huyền thoại ẩn hiện sau khe núi đây rồi.



Nhân đây, xin đăng lại một câu truyện có liên quan tới thung lũng Đường Thượng này.

Cột đá hành hình và những bí ẩn chưa có lời giải



Chẳng biết chuyện thật hay hư, chỉ biết rằng cây cột đá đó đến ngày nay vẫn tồn tại, như một minh chứng sống động nhất tố cáo bản chất ác độc của một số thổ ty, quan lang ngày xưa.
Đêm ở cao nguyên đá Hà Giang lạnh và heo hút. Bóng tối đặc quánh, như có thể dùng dao xắt được ra từng mảnh. Bên những chén rượu ngô uống mãi vẫn thấy ngọt, chúng tôi được các cụ già ở xã Đường Thượng, huyện Yên Minh kể cho nghe những truyền thuyết về cây cột đá giết người của một thổ ty từng cai quản vùng này cách nay hơn 200 năm, có tên gọi Sùng Chúa Đà. Dinh cơ của thổ ty Sùng Chúa Đà đến nay chỉ còn là phế tích.

Bà Dương Thanh Hương, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Giang, người trực tiếp lên Đường Thượng đưa cây cột đá này về trưng bày, cho biết khi các cán bộ bảo tàng tìm đến thì phát hiện cây cột đá này nằm đổ trên một nương đá, cách UBND xã Đường Thượng vài trăm mét. Người dân vùng này “căm thù” cây cột đá ấy nên hò nhau đẩy đổ. Vì nó nặng quá chứ không thì họ cũng khiêng ném xuống sông xuống suối rồi. Vận chuyển nó về Bảo tàng Hà Giang được cũng là cả một vấn đề. Đó là một tảng đá nguyên khối, cao 1,90m, đường kính 60 cm. Thật may là họ gặp một đội xây lắp đang dựng cột điện ở đây. Bảo tàng đã thuê phương tiện của họ, dùng cẩu ba lăng kéo lê từng mét, qua mấy khúc suối mới đưa được cây cột đá ra đường ôtô.

Thế rồi cũng phải loay hoay đến ngót một ngày, nhờ đủ các “chuyên gia” chằng buộc cẩn thận thì “nó” mới được đưa về an toàn. Ở vùng cao này, xe ôtô đi được qua Cổng trời đã là một kỹ nghệ tuyệt đỉnh của các bác tài già, vậy mà còn chở cây cột đá thì phải có nghề lắm. “Nó” chỉ cần nhúc nhích thì cả người và xe mất hút dưới vực thẳm ngay lập tức.

Câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác, rằng xưa kia thổ ty Sùng Chúa Đà là một người rất khôn ngoan và khỏe mạnh. Trong một tiệc rượu, trai bản thách nhau ai nhảy qua được một cái khe sâu thì sẽ được bầu làm thổ ty. Không ngờ Sùng Chúa Đà nhảy thật. Không phải là nhảy mà là bay vù một cái đã sang bờ bên kia. Trai tráng kinh ngạc, đành phải giữ lời hứa, bầu ông ta là chúa đất. Trong tiếng Mông, Sùng Chúa Đà được hiểu là ông chủ vui tính. Nghĩa là từ một trò thách đố vui mà thành thật.

Tuy nhiên, lại có truyền thuyết nói rằng, Sùng Chúa Đà là một phù thủy, cú nhảy qua khe sâu của ông ta cũng là nhờ phép thuật mà thành. Sùng Chúa Đà còn từng biểu diễn màn ngậm súng kíp. Người hầu nhồi đầy thuốc nổ vào súng kíp để ông ta ngậm vào nóng súng, sau đó một người châm lưa vào ngòi nổ. Súng nổ đùng đoàng mà ông ta không bị làm sao. Từ đó, người dân vùng này càng nể sợ Sùng Chúa Đà hơn.

Sùng Chúa Đà cho người đục đẽo cây cột đá để làm phương tiện tra tấn những đôi trai gái yêu nhau, những kẻ vi phạm luật lệ do ông ta đặt ra. Đôi trai gái sẽ phải đứng áp mặt vào cột đá, hai bàn tay luồn qua hai lỗ tròn, và họ cứ phải đứng như thế trong tình trạng không có quần áo trên người. Tuy nắm được tay nhau nhưng họ không thể nhìn thấy mặt nhau. Cứ đứng như thế giữa trời, giữa đêm đông giá rét hay mưa gió bão bùng, người nào khỏe lắm thì trụ được đến ngày thứ ba, không thì chết vì đói khát, làm mồi cho thú dữ, cho kiến đốt hoặc là đối mặt với hàng trăm ngàn mối nguy hiểm khác.

Sùng Chúa Đà bắt họ phải chết một cách đau đớn như thế là vì truyền thuyết kể rằng, Sùng Chúa Đà có khá nhiều vợ, nhưng ông ta yêu nhất bà vợ thứ ba. Một lần phát hiện vợ ngoại tình với một nô bộc trong nhà, Sùng Chúa Đà điên tiết vì bị phản bội và đã cho người đẽo cây cột đá gấp để hành hình đôi “gian phu dâm phụ”.

Cũng có chuyện kể rằng, vì quá yêu người vợ này nên ông ta không bao giờ cho vợ đi chơi. Nhân một hôm ông ta ngủ say, người vợ này đã lén lút trốn đi chợ phiên. Sùng Chúa Đà vác dao ra đầu núi chờ sẵn, đến khi cô này cưỡi ngựa về qua đã bị ông ta chém chết.

Lại có truyền thuyết nói về cái chết của Sùng Chúa Đà như sau: Khi cô vợ bé bị ông ta giết chết, người nhà cô này không những không thù hận mà còn dẫn cô em gái của cô này đến nhà Sùng Chúa Đà, ngỏ ý được thay thế cô chị. Chúa đất đồng ý nhưng không ngờ đã bị rơi vào cạm bẫy của gia đình cô vợ bé. Khi tiệc cưới đang diễn ra thì có một nhóm người mang theo dao thớt đến nhà Sùng Chúa Đà, nói rằng do bên nhà vợ cử sang để làm cỗ, vì người Mông nấu cỗ không ngon. Sùng Chúa Đà mất cảnh giác đã bị chính nhóm người này dùng dao chém chết.

Đến nay, người Mông nơi đây vẫn tin rằng, oan hồn những người chết do bị hành hình ở cây cột đá này vẫn lẩn khuất, vì thế trai gái yêu nhau đi qua cây cột này sẽ nhanh chóng bỏ nhau, trâu bò có thai đi qua là bị trụy thai, thậm chí người khỏe mạnh đi qua về nhà bị ốm hàng tuần liền… Giờ thì cây cột đá đã được đưa vào khuôn viên Bảo tàng tỉnh Hà Giang./.



Đường Thượng là một thung lũng kéo dài khoảng 6km thì bị chắn bởi một dãy núi, nếu vượt qua dãy núi này thì sẽ đi sang thung lũng phía Lũng Tám của huyện Yên Minh, nơi có làng sản xuất lanh mà tôi đã vào thăm.

Giờ đây, màu xanh trù phú đến bất ngờ là hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi. Đường Thượng có vẻ là 1 xã hoàn toàn của người Mông, khi bước chân vào thung lũng, tôi tự hỏi ngày xưa, liệu người Mông có phải trả giá bằng máu để có được thung lũng đẹp đẽ và trù phú giữa vùng núi đá khô cằn nơi đây hay không????.
Thung lũng này, vài chục năm trở về trước là những nương anh túc bạt ngàn.


Giờ đây, toàn bộ thung lũng được phủ một màu xanh của ngô




Nhà của người Mông nơi đây rất ngăn nắp và rộng rãi


Con đường trung tâm được đổ bê tông phẳng phiu và sạch sẽ


Ngô được trồng lẫn với đỗ tương để cải tạo đất và cây lanh
Rời thung lũng Đường Thượng xinh đẹp, tôi lại tiếp tục hành trình tới Du Già. Đường tới Du Già khá đẹp với suối nước, núi cao hùng vĩ, vực sâu thăm thẳm tuy nhiên độ cao cũng giảm dần, đường ngày càng rộng hơn.


Núi cao chót vót


Đến đây là đường cấp phối rồi.


Xuống dưới đây, bà con đã có thể trồng lúa nước vì nguồn nước dồi dào, làng bản cũng trù phú hơn, có ao để thả cá.


Chẳng mấy chốc tôi đã đến trung tâm xã Du Già, buổi chiều trung tâm xã vắng tanh.


Chợ Du Già mới được xây lại, khang trang và sạch sẽ, chợ họp vào sáng thứ 7 hàng tuần.


Đến đây thì điều tôi lo lắng đã trở thành thảm hoạ thực sự. Máy ảnh của tôi hết sạch pin dù trước đó tôi phải chụp bằng viewfinder cho đỡ tốn pin. Loanh quanh ở trung tâm xã Du Già một lúc, đổ thêm xăng, tôi lại lên đường định bụng sẽ kiếm một bản nào đó nằm giữa Du Già với Minh Ngọc để xin ngủ nhờ. Lúc này, trời cũng đã về chiều, nếu không tìm được chỗ ngủ thì tôi sẽ phải chạy đêm về Hà Giang nghỉ.

Nhưng thật hữu duyên, tôi chạy qua trung tâm xã Du Già khoảng 4km thì lại gặp một thung lũng tuyệt đẹp với một bên là núi cao, rừng nguyên sinh um tùm, một bên là nương cải dầu của người Dao. Máy ảnh hết pin, tôi đành lấy điện thoại di động ra chụp, chất lượng ảnh xấu thậm tệ nhưng có còn hơn không.

Đàn trâu đang gặm cỏ


Con trâu này thấy người lạ tới lãnh địa của mình nhìn tôi có vẻ nghi ngờ


Nương cải dầu vừa mới thu hoạch


Nếu may mắn đi vào mùa hoa cải dầu, quang cảnh nơi đây chắc sẽ rất đẹp và rực rỡ.


Xa xa là rừng nguyên sinh với nhiều cây cổ thụ


Bản cũng ở ngay gần nương cải dầu


Sau khi thu hoạch, bà con đốt luôn thân cây để làm phân bón tạo nên một màn khói mờ ảo.


Gần đó có mấy chị người Dao đang chăn bò, tôi ra làm quen rồi hỏi xin ngủ nhờ một đêm. Một chị vui vẻ đồng ý, bảo tôi cứ đi về bản trước rồi chị sẽ đuổi bò về theo sau.

Một số thông tin về cây cải dầu nơi đây

Cây cải dầu, hướng đi mới trong sản xuất vụ Đông - xuân ở 4 huyện vùng cao

Bao đời nay, người dân 4 huyện vùng cao núi đá mong mỏi tìm đượcgiống cây trồng mới, phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt để sản xuất trong vụ Đông - xuân nhằm nâng cao thu nhập, xoá đói, giảm nghèo.

Đáp ứng nguyện vọng của bà con, vụ Đông - xuân năm nay, tỉnh ta đã triển khai Chương trình trồng thí điểm cây cải dầu tại 4 huyện vùng cao núi đá. Với sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, các ngành cùng sự vào cuộc tích cực của bà con, Chương trình trồng cây cải dầu đang đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, hứa hẹn cây trồng triển vọng trong vụ Đông - xuân trên vùng đất khó.
Do điều kiện khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước, khô hạn nên đa phần ruộng, nương trên các huyện vùng cao bỏ không trong vụ Đông - xuân. Cuộc sống của bà con chỉ trông chờ vào diện tích ruộng, nương vụ Mùa. Do đó cuộc sống đã khó khăn lại không có điều kiện để nâng cao thu nhập, việc vươn lên thoát nghèo nhờ sản xuất nông nghiệp càng khó khăn hơn. Mơ ước của bà con bao đời nay đó là nhờ các cấp, các ngành tìm cho vùng cao giống cây trồng mới, phù hợp với điều kiện đồng đất, khí hậu lại có giá trị kinh tế, đầu ra ổn định để nâng cao thu nhập, xoá đói, giảm nghèo. Đây không chỉ là ước vọng của người dân vùng cao mà cũng là nỗi trăn trở của lãnh đạo tỉnh nhà. Vì lẽ đó, vụ Đông - xuân năm nay, tỉnh ta đã triển khai Chương trình trồng cây cải dầu tại các huyện vùng cao núi đá nhằm tạo thành vùng trồng cây nguyên liệu để sản xuất dầu thực vật. Cây cải dầu được người dân nơi đây trồng từ nhiều năm nay, tuy nhiên do chưa có đầu ra ổn định nên bà con chỉ trồng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày chứ chưa nhân ra diện rộng. Mặt khác, nhiều năm trước, tỉnh cũng đã trồng thí điểm và khẳng định cây cải dầu có thể sinh sống, phát triển tốt trong vụ Đông - xuân ở nhiều địa phương tại 4 huyện vùng cao núi đá. Những yếu tố đó đã giúp tỉnh có cơ sở để xây dựng, triển khai Chương trình trồng cây cải dầu với mục tiêu tìm cây trồng phù hợp, giúp bà con vùng cao xoá đói giảm nghèo.
Bước vào triển khai, thực hiện, Chương trình trồng cây cải dầu đã nhận được sự quan tâm rất lớn của các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Điều đó thể hiện qua nhiều chuyến thăm, kiểm tra thực tế tại các địa phương đang triển khai trồng cây cải dầu tại các huyện Đồng Văn, Quản Bạ, Yên Minh của các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Chúng tôi được tháp tùng đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Minh Nhất đi thăm các địa phương triển khai Chương trình trồng cải dầu ở xã Du Già (Yên Minh); Niêm Sơn, Tát Ngà (Mèo Vạc); Phố Là (Đồng Văn). Đến địa phương nào, cá nhân đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng trực tiếp xuống chân ruộng trồng cải dầu để nắm bắt tình hình thực tế, động viên bà con nông dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con. Đồng thời động viên, chỉ đạo chính quyền địa phương quan tâm, triển khai tốt Chương trình, khi thực hiện thành công các địa phương không chỉ tìm được cho mình cây trồng mới, có giá trị kinh tế trong vụ Đông - xuân mà còn nâng cao thu nhận trên một đơn vị diện tích, góp phần nâng thu nhập, xoá đói giảm nghèo. Đối với ngành Nông nghiệp, việc triển khai Chương trình trồng cây cải dầu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong vụ Đông - xuân năm nay. Tuy nhiên, việc triển khai Chương trình được thực hiện từng bước dựa trên cơ sở khoa học thực tiễn. Đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn cho biết: “ Quan điểm của ngành đối với Chương trình trồng cây cải dầu đó là lấy hiệu quả kinh tế đặt lên hàng đầu, do đó trong quá trình thực hiện phải đảm bảo từng bước đầu tư trồng trên cơ sở khoa học thực tiễn gắn với cơ chế thị trường nhằm đạt được mục tiêu về hiệu quả kinh tế, xoá đói, giảm nghèo lâu dài, bền vững”. Từ quan điểm, mục tiêu đó, ngành đã hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho các địa phương thực hiện kỹ thuật trồng, điều chỉnh cơ cấu thời vụ, cơ cấu giống cây phù hợp. Cùng với đó, phân công cán bộ kỹ thuật của Sở xuống phối hợp với các huyện vận động, hướng dẫn người dân trồng cải dầu theo đúng thời vụ, chăm sóc đúng kỹ thuật cũng như nắm bắt tình hình để báo cáo thường xuyên với tỉnh. Chính quyền các xã cũng đã tuyên truyền, vận động bà con hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của Chương trình trồng cải dầu đối với sự phát triển chung của địa phương cũng như ý nghĩa đối với gia đình mình. Do đó mỗi người dân nằm trong vùng triển khai trồng cải dầu đều đồng tình hưởng ứng, tích cực phối hợp, tham gia trồng, chăm sóc. Đồng chí Nguyễn Công Tuệ, Chủ tịch UBND xã Du Già cho biết: “Vụ Đông - xuân này, xã được giao trồng 20 ha cây cải dầu, đây là cây trồng mới nên xã đã tập trung cho công tác tuyên truyền, vận động, đó là cắt cử cán bộ trực tiếp xuống từng hộ gia đình nói cho bà con hiểu. Bước đầu bà con chưa nghe vì đó là là cây trồng mới, nhưng vận động nhiều thì bà con cũng đồng tình ủng hộ, tự đăng ký diện tích trồng với xã và nhiệt tình phối hợp với cán bộ kỹ thuật trong việc trồng, chăm sóc. Qua đó xã đã hoàn thành 20 ha theo kế hoạch”.
Nhờ sự quan tâm của tỉnh, ngành chức năng cùng sự đồng thuận của bà con, Chương trình trồng cải dầu đã đạt được những kết quả ban đầu đáng mừng. Tổng diện tích gieo trồng trong vụ Đông - xuân năm này đạt 210 ha, trong đó Đồng Văn trồng 60 ha; Yên Minh, 50 ha; Mèo Vạc, 65 ha; Quản Bạ 35 ha. Hai giống cải được trồng trong vụ này đó là giống cải Miên dầu số 16; giống Hyola 61. Tại các huyện, Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ Thực vật thường xuyên cắt cử cán bộ xuống địa bàn theo dõi sát sao sự sinh trưởng và phát triển cũng như tình hình dịch bệnh của cây. Do đó diện tích cây cải dầu trên địa bàn đang sinh trưởng, phát triển tốt, tuy nhiên do điều kiện thời tiết đầu vụ quá khô hạn nên một số diện tích cây không có khả năng phát triển. Theo báo cáo tiến độ trồng cải dầu của Sở NN- PTNT, diện tích cây cải Miên sinh trưởng, phát triển tốt, cây đã phân ngồng, có từ 40 đến 60% số cây đã có hoa. Mức độ phân hoá ngồng hoa từ cành cấp 1 đến cành cấp 2 thấp, trung bình mỗi cây có từ 4 đến 6 cành hoa cấp 2. So với giống cải Miên, giống Hyola 61 khả năng chống chịu hạn kém hơn, cây sinh trưởng, phát triển chậm hơn, phân hoá ngồng hoa không đồng đều. Đến nay diện tích trồng giống cải này đã phân ngồng, có từ 20 đến 40% cây đã có hoa…Sâu bệnh hại như rệp, sâu xanh, sâu tơ, bọ nhảy cũng đã xuất hiện cục bộ những cán bộ kỹ thuật đã hướng dẫn bà con phun thuốc phòng trừ, ngăn chặn kịp thời. Với sự phát triển thực tế, việc thu hoạch cây cải dầu.
Ngoài việc triển khai trồng cải dầu, tỉnh cũng quan tâm đến vấn đề thu mua sản phẩm cho bà con. Vừa qua, UBND tỉnh đã họp với lãnh đạo các ngành chức năng, 4 huyện vùng cao núi đá và Công ty TNHH Đông Thành để bàn bạc, thống nhất một số nội dung về việc tiêu thụ sản phẩm cải dầu. Công ty TNHH Đồng Thành xây dựng Dự án chế biến hạt cải dầu, đồng thời phối hợp với các huyện bao tiêu toàn bộ sản phẩm của người dân theo giá thị trường. Công ty cũng sẽ nhận được sự quan tâm từ các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của tỉnh trong quá trình xây dựng, thực hiện Dự án.

Như vậy, việc trồng cải dầu cũng như thu mua sản phẩm đã đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, các cấp, các ngành, người dân trồng cải tiếp tục quan tâm, chăm sóc để diện tích trồng cải dầu đạt được những mục tiêu, ý nghĩa đề ra, làm cơ sở thực tế cho tỉnh tiếp tục triển khai quy hoạch mở rộng diện tích, đưa cây cải dầu đến với mục tiêu của tỉnh đó là cây xoá đói, giảm nghèo cho người dân vùng cao núi đá.

Theo Báo Hà Giang điện tử

Về đến nhà chị người Dao, tôi rất sửng sốt trước cơ ngơi của nhà chị. Một ngôi nhà sàn rộng khoảng 100m2, với hệ thống chuồng trại được bố trí rất ngăn nắp quy củ, có ao thả cá quây xung quanh rất khoa học và nên thơ.


Ngồi hỏi chuyện mới biết chị tên là Lý Thị Tày còn anh tên là Phàn Văn Hòm. Bản này gọi là bản Lũng Đàm, nhà chị Hòm nằm ở độ cao 828m.

Khu chuồng lợn được đặt trên mặt ao cá


Ao cá được thiết kế rất mỹ thuật





Bên ngoài nhà


Đây là một ngôi nhà sàn rất truyền thống của người Dao. Tầng trên để ở, dưới gầm là chỗ chăn nuôi gia súc.


Ngôi nhà làm 100% bằng gỗ dổi


Ngôi nhà soi bóng xuống mặt ao rất đẹp.


Có một con cào cào tre dựng ngoài sân, ngồi thử cái


Sàn nhà được lát bằng gỗ tấm rộng khoảng 40cm, dài 4m, dày 3cm, phẳng lì, lên nước nhẵn bóng.
Chính giữa nhà là bếp lửa, phía trên là gác bếp.


Giống người Dao ở Xuân Sơn, Phú Thọ, bếp lửa là nơi trang trọng nhất và dùng để tiếp khách, sum họp gia đình.

Gác bếp của người Dao cũng gần giống cái tủ lạnh của người thành phố dùng để bảo quản thức ăn, đồ dùng thậm chí là hạt giống.
Một món ăn rất phổ biến của người Dao là thịt lạp. Đây là loại thịt hun khói, để càng lâu càng ngon, dễ chế biến, hợp khẩu vị với tất cả mọi người. Cách làm thịt lạp đơn giản, nhưng đòi hỏi phải kỹ lưỡng. Khi con lợn được phanh ra, người ta xả khổ thịt theo dọc xương sườn, mỗi rẻ xương sườn một khổ bỏ lên nia xát muối (nếu là loại muối có trộn i ốt thì phải rang kỹ, giã nhỏ), bóp rượu, bóp nước vắt từ một loại lá chuyên dùng để ướp thịt, rồi cho vào chảo ủ ba đến bốn ngày, sau đó rửa nước đun sôi để nguội, phơi ráo nước rồi treo trên gác bếp.

Vừa vào nhà chị Hòm tôi đã tia thấy xâu thịt lạp đang treo lủng lẳng trên gác bếp


Còn đây là gác bếp


Và chân dung của nữ Bồ Tát


Tôi vào nhà ngó nghiêng một vòng , quả thật là ngôi nhà sàn này quá xa xỉ so với dân Hà Nội như tôi. Nếu bê nguyên cả dinh cơ này về mà đặt ở Hà Nội thì không biết giá bao nhiêu tỷ.
Lòng nhà hơi rộng cho một gia đình ở (khoảng 100m2), có 1 bộ bàn ghế gỗ để tiếp khách (theo kiểu miền xuôi), 2 giường ngủ cho khách khứa, phòng ngủ của anh chị Hòm được quây kín bằng ván gỗ cũng giống kiểu nhà đồng chí Cơ ở bản Lao Sang.
Sát mái nhà là hệ thống gác xép để chứa đồ bao gồm thóc lúa, ngô, thóc giống dự trữ... có thang lên đàng hoàng và được sắp xếp rất quy củ.
Nhà anh chị Hòm đã có điện lưới, có TV với truyền hình vệ tinh, đèn neon để thắp sáng và anh Hòm cũng mới sắm điện thoại di động để liên lạc.
Nhìn chung, nhà anh chị Hòm thuộc diện tương đối khá giả tuy nhiên vẫn mang đậm tính truyền thống và những nét văn hóa của người Dao.
Đối diện với bếp lửa sát vách nhà là bàn thờ của gia đình. Ngày trước, người Dao thường thờ Bàn Vương với tranh thờ tuy nhiên giờ đây họ đơn giản thờ tổ tiên và các bậc thần linh để mong an lành cho gia đình. Trên bàn thờ có 2 câu đối chữ hán hai bên và đặc biệt có 2 cuốn sách bằng chữ Hán làm bằng giấy bản viết tay.








Rất tiếc là tôi không biết chữ Hán nên không đọc được nội dung của 2 cuốn sách nhưng chắc chắn nó chứa đựng nhiều điều thú vị và văn hóa tín ngưỡng của người Dao.










Sau khi mang đồ đạc vào nhà chị Hòm, sắp xếp gọn ghẽ, tôi nhờ chị bắt cho một con gà để tối làm thịt cả nhà cùng ăn và không quên nói với chị cho tôi ăn thử món thịt lạp hấp dẫn, chị vui vẻ đồng ý đi chuẩn bị đồ ăn.
Tôi tranh thủ đi lang thang ngắm nghía khắp bản Lũng Đàm trước khi trời tối. Bản này các gia đình ở khá thưa nhau, nhà này cách nhà kia khoảng một hai trăm mét.








Một dòng suối nhỏ cung cấp nước cho cả bản


Bà con ở đây sống chủ yếu bằng làm nương, trồng cải dầu và chăn nuôi bò


Hoàn toàn không thấy có hiện tượng săn bắn thú rừng hay khai thác lâm sản nơi đây, cả một khu rừng nguyên sinh cạnh bản vẫn còn nguyên.

Từ phía dưới nhìn lên nhà chị Hòm, ngôi nhà nằm trên một sườn dốc khá cách biệt.


Bà con ở đây đặc biệt rất thân thiện với tôi cũng giống bà con người Dao ở Bến Thân, Phú Thọ. Ai gặp tôi cũng chào hỏi, mời vào nhà chơi, vui vẻ trả lời những câu hỏi của tôi, thậm chí còn sẵn sàng mời cơm. Lũ trẻ cũng rất ngoan và đáng yêu, luôn chỉ trỏ cho tôi xem cái nọ cái kia.


Nhìn chung, cuộc sống ở đây rất khấm khá, nhà nào cũng có vẻ sung túc, nhà cửa khang trang, có ao cá, vườn rau, lợn bò đầy chuồng.




Một đàn lợn con rất đáng yêu


Tôi bắt gặp một bà mẹ rất trẻ đang địu đứa con nhỏ trên lưng ngồi sang sảy gạo. Hình ảnh sao mà đẹp thế không biết, tiếc là không có máy ảnh ở trong tay.


 Một đứa bé vô cùng đáng yêu đứng ngó tôi, tôi dùng điện thoại chụp nghịch ngợm một kiểu, trông cũng vui.


Dòng suối trong vắt chảy quanh co trong bản

Đi loanh quanh một lúc thì trời tối hẳn, giờ này gà bắt đầu lên chuồng để bắt làm thịt. Tôi quay trở về nhà chị Hòm xem có phải giúp gì không.
Về đến nhà thì thấy anh Hòm cũng đã về, rất may là chị Hòm cũng biết nội trợ nên tôi không phải làm gì cả, tôi vào ngồi cạnh bếp lửa nói chuyện với anh Hòm. Anh Hòm rất hiền và ít nói, anh cho biết nhà anh có 3 đứa con, con gái lớn đã đi lấy chồng, 1 thằng con trai năm nay 18 tuổi đang chuẩn bị lấy vợ, một đứa nhỏ đang đi học. Chị Hòm năm nay mới 39 tuổi nhưng đã lên chức bà, hai anh chị ngang tuổi nhau. Ở đây vẫn còn tục mua dâu, anh Hòm cho biết ngày trước anh "bán" con gái đi làm dâu được 12 đồng bạc, không rõ quy đổi ra tiền là bao nhiêu vì không ai bán cả mà chỉ dùng đồng bạc để cưới xin. Năm tới nếu con trai anh đi lấy vợ, nhà anh sẽ phải mua dâu mất 20 đồng bạc.
Con trai ở đây vẫn còn tục cấp sắc, cứ trên 10 tuổi là phải làm, nếu không sẽ bị coi là chưa trưởng thành.

Nhân đây lại nói thêm về lễ cấp sắc của người Dao
Cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của đàn ông Dao. Lễ cấp sắc cũng tương tự như lễ thành đinh của một số dân tộc khác. Đối với người đàn ông dân tộc Dao được cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành, được làm nghề cúng bái và được giao tiếp với cõi âm. Lễ cấp sắc có nhiều bậc: 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn.
Ông thầy trong lễ cấp sắc phải chọn thầy cao tay, ngày tháng cấp sắc được chọn rất cẩn thận, người được cấp sắc cũng phải thuần thục các nghi lễ trong các bản sắc. Việc cấp sắc trong gia đình được tuân thủ từ trên xuống dưới. Buôỉ lễ cấp sắc có thể làm thủ tục cho một người hoặc vài người cũng được nhưng phải là số lẻ. Người đàn ông có vợ thường là những người được cấp sắc, tức là để được coi là người đàn ông trưởng thành bắt buộc phải qua lễ cấp sắc.
Lễ cấp sắc có nhiều bậc, bậc đầu tiên họ được cấp 3 đèn và 36 binh mã, đây là nghi thức thông thường được diễn ra trong lễ cấp sắc của người Dao. Bậc 2 họ được cấp 7 đèn và 72 binh mã và cuối cùng là 12 đèn và 120 binh mã. Nhón Dao Tiểu Bản thường chỉ cấp sắc ở 2 mức độ: 3 đèn và tẩu slai hoặc 7 đèn trở lên ( đối với nhóm Đại Bản) thì người đàn ông Dao mới trở thành thầy cúng. Thầy cúng có 2 cấp: Sài có là người theo thầy để giúp và học việc; sài tía là người đã trải qua lễ cấp sắc 3 đèn hoặc 7 đèn.
Việc đầu tiên của lễ cấp sắc là gia chủ phải làm cơm, rượu cúng báo tổ tiên về việc chuẩn bị và hẹn thời điểm tiến hành lễ cấp sắc. Sau đó phải nuôi 2 con lợn 1 đực 1 cái chuẩn bị cho việc cúng bái trong lễ cấp sắc . Ngoài ra phải chuẩn bị lợn, gà, rượu, gạo…để làm cỗ và vài trăn nghìn tiền mặt để bồi dưỡng thầy. Thường là một lễ cấp sắc 3 đèn thì cần 3 thầy, 7 đèn thì 7 thầy. Ông thầy cả gọi là chí chẩu sai hoặc cô tàn sai, các thầy phụ gồm: dần chái, tình mình, pá tạn, tông tàn.
Ngày hành lễ cấp sắc thường được tiến hành vào những tháng cuối năm. Trước khi hành lễ , người cấp sắc phải kiêng khem một số thủ tục như: không được nói tục chửi bậy, không được quan hệ vợ chồng, không được để ý đến phụ nữ…. Thời gian tiến hành lễ cấp sắc 3 đèn kéo dài từ 1 đến 2 ngày; cấp sắc 7 đèn kéo dài 3 đến 5 ngày.
Các nghi lễ chính trong lễ cấp sắc gồm lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ tổ tiên. các thầy cúng phải tẩy uế xong mới đánh trống mời tổ tiên về dự, sau đó thầy cúng làm lễ khai đàn, nhằm báo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ. Lễ thụ đèn , người được cấp sắc phải ăn mặc chỉnh tề ngồi trước bàn thờ, hai tay giữ một cây tre, nứa, ngang vai có đục và xuyên một thanh ngang dài vừa tầm vai để thày đốt đèn, đặt nến để làm lễ. Đặc biệt trong lễ cấp sắc là cấp đạo sắc cho người thụ lễ với 10 điều cấm và 10 điều nguyện, tại đạo sắc này tên âm của người thụ lễ được ghi luôn để khi chết về được với tổ tiên. Quan trọng nhất trong nghi lễ là cấp pháp danh cho người thụ lễ. Người thụ lễ lấy vạt áo để hứng gạo từ thầy cả và bố đẻ. Sau đó các thầy sẽ dạy cho người thụ lễ một số điệu múa.
Kết thúc nghi lễ, các thầy múa để dâng rượu, lễ vật tạ ơn thần linh. Từ đây chàng trai thụ lễ đã được coi như một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn về thể chất cũng như tâm linh.

Nguồn: Việt báo

Một vài hình ảnh sưu tầm về lễ cấp sắc của tác giả Nguyễn Trường Giang

Các chàng trai người Dao Lùng Tao nhân vật chính của buổi lễ cấp sắc cho người trưởng thành


Chuẩn bị váy áo, đồ lễ cho lễ cấp sắc


Đồ lễ cúng cấp sắc


Những đồ nghề của thầy mo cúng trong lễ cấp sắc


Thầy "Mo nhất" Người quan trọng của buổi lễ cúng cấp sắc


Thầy " Mo nhị" người trợ giúp đắc lực của thầy mo nhất trong lễ cúng


Thầy "Mo tam" thầy này có nhiệm vụ cúng chúng sinh tà ma cho hai thầy mo Nhất và Nhị làm lễ


Lễ cúng được bắt đầu


Các thiếu nữ phục vụ buổi lễ cấp sắc

Lễ cúng đang diễn ra rất gay cấn


Bài cúng thần rừng trong lễ cấp sắc của người Dao


Các thiếu nữ làm duyên trong lễ cấp sắc


Hai chú bé này hôm nay được thầy mo và dân bản làm lễ cấp sắc để trở thành người "lớn", vậy là các chú có quyền được có "bạn gái" ngay sau lễ cấp sắc!


Bao giờ thì đến luợt cháu làm lễ cấp sắc hả bà?


Quay lại câu chuyện của tôi với anh Hòm, anh nói ở đây toàn người nhà họ hàng cả, mọi người sống rất bình yên và hòa thuận. Tôi cũng thấy mọi người sang nhà nhau chơi rất vui, ở đây, mọi người quan hệ với nhau rất trong sáng, ai có việc gì cần giúp là họ giúp nhau ngay, không hề tính đến công sá gì cả.

Nhìn thấy anh cu con út nhà anh Hòm nằm nhăn nhó, tôi hỏi cháu bị làm sao vậy, anh Hòm nói nó bị lên cái nhọt ở bụng, phải nghỉ học mất mấy hôm nay. Tôi tới gần và bảo thằng bé vạch áo xem thế nào, cu cậu kéo áo lên thì tôi thấy quả là có một cái nhọt to tướng ở bụng nhìn rất thương. Tôi thì không phải bác sỹ nên cũng chẳng biết làm thế nào, có điều ngày xưa bé tôi cũng bị lên nhọt mãi, chỉ biết lấy kinh nghiệm ngày xưa của mình giúp thằng bé được phần nào.
Tôi mở ba lô lấy túi cứu thương, dùng cồn y tế lau sạch cái nhọt, rồi sau đó lấy nhiều gạc tiệt trùng băng kín bên ngoài để thấm mủ và giữ cho sạch sẽ. Sau đó tôi đưa hết toàn bộ số cồn y tế, băng gạc mang theo cho anh Hòm, dặn anh hàng ngày làm như tôi vừa làm và đưa thêm cho anh 1 lọ vitamin tổng hợp để thằng bé uống cho mát, tăng sức đề kháng, một lọ thuốc giảm đau để uống nếu đau quá không ngủ được. Tôi cũng dặn kỹ anh là nếu thấy thằng bé sốt cao thì phải chở đi ngay bệnh viện, không được chậm trễ.
Xong xuôi thì chị Hòm cũng đã chuẩn bị xong cơm, có món gà luộc, canh bí ngô và món tôi hâm mộ nhất: thịt Lạp xào. Chị Hòm cũng nói, vì mùa này đang giáp hạt nên không có rau xanh, bảo tôi ăn tạm vậy. tôi cám ơn chị và nghĩ bụng, thế này là quá tươm rồi, nhìn đĩa thịt lạp xào mà nuốt nước bọt ừng ực.

Chưa bao giờ tôi được ăn một bữa cơm ngon như vậy trong một không gian hoàn toàn mới, vừa có nét hoang sơ, vừa thấm đậm tình người, cái mà giờ đây đang trở nên ngày càng quý hiếm.
Gà ở đây khá đặc biệt, có đùi dài và nhỏ nhưng thịt rất chắc, dai thơm, và ngọt, không béo. Thịt lạp được rửa sạch sẽ cho hết muội than, bồ hóng rồi chặt nhỏ, xào với hành mà không cần cho thêm bất cứ loại gia vị gì. Hành ở đây cũng là loại hành tía, củ nhỏ nhưng rất thơm. Miếng thịt lạp sau khi được xào lên, bì thì dòn, mỡ thì trong vắt ăn sần sật mà không ngấy, thịt nạc thì mềm, ngọt và thơm mùi khói. Miếng thịt vốn đã được ướp muối nên khi xào lên ăn với cơm rất vừa miệng, không bị mặn.
Anh Hòm lấy chai rượu thóc nhà nấu ra đãi tôi, hai anh em vừa uống rượu, vừa hàn huyên trong không khí thật thân tình. Tôi làm một mạch 3 bát cơm với thịt lạp, thịt gà, chan canh bí ngô no căng cả bụng.


Ăn uống no say, cả nhà làm một ấm trà ngồi quanh bếp lửa nói chuyện đến 10 giờ đêm mới đi ngủ. Cảm giác được ngủ trong một ngôi nhà sàn của người Dao giữa núi rừng thế này tôi còn thấy thích thú hơn ngủ trong resort 5 sao.

Sáng hôm sau, mọi người cùng dậy sớm. Chị Hòm đã nấu sẵn cơm cho tôi ăn sáng. Sáng nay chị đi làm nương giúp người trong bản. Cả nhà ăn sáng xong, chị lấy cơm gói vào lá chuối để mang lên nương ăn, tôi để ý thấy chị chỉ gói độc cơm không mà không mang theo một thứ đồ ăn nào khác, thậm chí là muối vừng. Với họ, việc ăn trưa dường như chỉ là để đỡ đói và không quan trọng lắm, một cách sống thật giản dị, đáng yêu.
Tôi cũng thu xếp hành lý sớm để lên đường. Chặng đường ngày hôm nay khá dài (khoảng 380km) để về Hà Nội sớm. Tôi chia tay anh chị Hòm trong sự bịn rịn, chị Hòm nhắc đi nhắc lại với tôi, "bao giờ qua đường nhớ vào nhà chị chơi nhé". Tôi cám ơn mọi người và nổ máy, rẽ làn sương xuống núi.
Đoạn đường từ Du Già về đến Minh Ngọc cảnh sắc rất đẹp, rừng nguyên sinh um tùm, đường cũng được trải nhựa phẳng phiu nên chẳng mấy chốc tôi đã đến trung tâm xã Minh Ngọc.

Minh Ngọc với dãy nhà sàn bằng bê tông cốt thép xây thành dãy hai bên đường.


Tôi qua Thị xã Hà Giang rồi đi dọc sông Lô thẳng về Tuyên Quang, sau đó theo quốc lộ 2C đi giữa một vùng trung du tuyệt đẹp về đến thị xã Vĩnh Yên. Đến 3 giờ chiều thì tôi đã qua cầu Thăng Long về Hà Nội, thay đồ, tắm rửa rồi ra 1A Láng Hạ uống bia với các anh em trong đội cào cào.
Đây thực sự là một chuyến đi gặp nhiều may mắn của tôi, được trải nghiệm và hiểu ra thêm nhiều điều. Mặc dù đã gần 2 tuần trôi qua nhưng đến hôm nay, dư âm của chuyến đi vẫn còn hừng hực trong tôi. Sau chuyến đi, tôi mới hiểu rõ hơn thế nào là các dân tộc anh em, thế nào là bản sắc văn hóa, thế nào là tình người, thế nào là giàu có, thế nào là hạnh phúc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét